Vai trò của triều đình và các vua Trần

Bộ chỉ huy quân sự do Trần Quốc Tuấn làm Thống soái giữ vai trò quyết định thắng lợi của chiến tranh. Nhưng thắng lợi của chiến trường bảo vệ đất nước không thể tách khỏi công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng hậu phương. Vì thế sẽ là phiến diện nếu không nhìn nhận đúng vai trò của triều đình và các vua Trần.

Hố khai quật di tích bãi cọc đồng Vạn Muối, phường Nam Hòa, tháng 11-2007.
Hố khai quật di tích bãi cọc đồng Vạn Muối, phường Nam Hòa, tháng 11-2007.

Sau khi thành lập năm 1226, triều Trần đã nhanh chóng khắc phục những hậu quả của những năm loạn ly của triều Lý suy vong và thúc đẩy mạng mẽ sự phát triển toàn diện của đất nước. Hệ thống chính quyền được củng cố, sự vận hành được nâng cao với việc sửa đổi và ban hành Hình luật, biên soạn Quốc triều thông chế. Thiết lập chế độ Thượng hoàng để bảo đảm tính liên tục và ổn định trong kế thừa ngôi vua. Triều Trần thực thi nhiều chính sách, biện pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Vào giữa thế kỷ XIII, nước Đại Việt thời Trần đã trở thành một quốc gia độc lập, cường thịnh, đạt đến trình độ không thua kém bình diện phát triển chung của khu vực và thế giới. Sản phẩm tiêu biểu của sự phát triển đó là nền Văn minh Đại Việt mà vào cuối thế kỷ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn đã tự hào nhận xét: “Nước Nam, hai triều đại Lý Trần có tiếng văn hiến”. Sự phát triển của đất nước, nền văn minh Đại Việt tạo nên thế nước cường thịnh, cơ sở hậu phương vững vàng cho công cuộc bảo vệ đất nước thành công.

Trong nền văn minh Đại Việt, tôi muốn lưu ý một số đặc điểm và giá trị tiêu biểu có tác động sâu sắc đến sức sống mạnh liệt của cả dân tộc.

Văn minh Đại Việt về căn bản vẫn là văn minh nông nghiệp trồng lúa nước nhưng đã phát triển đến trịnh độ cao và kết hợp với sự phát triển của các nghề thủ công, quan hệ buôn bán trong nước và khu vực, sự hưng khởi của đô thị và thương cảng mà hai trung tâm mậu dịch đối ngoại lớn nhất là kinh thành Thăng Long và thương cảng Vân Đồn. Triều Trần tiếp tục chính sách “ngụ binh ư nông” vừa bảo đảm lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp, vừa kịp thời điều động mọi đinh tráng vào lính khi có chiến tranh. Đó là chính sách kết hợp “binh” với “nông”, kinh tế với quốc phòng, nhằm mục tiêu “lúc vô sự thì về làm ruộng, khi có động thì chiểu sổ gọi ra hết”, “bách tính đều là lính (bách tính giai binh)”, “khi có việc chinh chiến thì hết thảy mọi người đều là quân lính (tận dân vi binh)”. 

Về mặt xã hội, trong nền văn minh đó, quan hệ cộng đồng lấy cộng đồng thôn xã và quan hệ huyết thống của dòng họ làm cơ sở, kết hợp với quan hệ vùng và quan hệ quốc gia - dân tộc. Đây vốn là kết cấu xã hội truyền thống, nhưng nhà Trần đã phát huy mạnh qua chính quan hệ của dòng họ tôn thất với xã tắc. Họ Trần là họ tôn thất nắm quyền thống trị quốc gia thể hiện rất rõ những mối quan hệ xã hội-chính trị này qua lời vua Trần Thánh Tông: “Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta và các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui. Các khanh nên truyền những lời này cho con cháu để chúng đừng bao giờ quên, thì đó là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc”. Từ quan niệm đó, nhà vua hạ chiếu cho các vương hầu tôn thất “khi bãi triều vào trong điện và lan đình, vua cùng ăn uống với họ, hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau”. Kết cấu thôn xã - dòng họ và quan hệ sơn hà – xã tắc thời Trần tạo nên mối quan hệ xã hội gắn kết làng-họ-nước rất mật thiết.

Quang cảnh hố khai quật bãi cọc đồng Má Ngựa, phường Nam Hòa, tháng 5-2000.
Quang cảnh hố khai quật bãi cọc đồng Má Ngựa, phường Nam Hòa, tháng 5-2000.

Về đời sống tôn giáo, văn hóa, xã hội Đại Việt thời Trần mang tính cởi mở, phóng khoáng, hòa đồng cao. Tiếp nối truyền thống thời Lý, Phật giáo vẫn thịnh đạt, nhưng Nho giáo càng ngày càng phát triển và Đạo giáo cùng tồn tại. Đó là thời “tam giáo đồng nguyên” với các kỳ thi Tam giáo và sự tôn trọng, không phân biệt đối xử với cả Tam giáo và các tín ngưỡng dân gian. Triều Trần không độc tôn một hệ tư tưởng và tôn giáo như thời Lê sơ độc tôn Nho giáo hồi thế kỷ XV, mà tôn trọng Tam giáo và tìm thấy trong mỗi “giáo” những điều bổ ích cho sự phát triển của chế độ quân chủ và của đất nước, của xã hội. Điều đó thể hiện rõ trong lời của vua Trần Thái Tông: “Cái phương tiện để mở lòng mê muội, con đường tắt để tỏ rõ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của Đức Phật; làm cán cân cho hậu thế, làm khuôn phép cho tương lai, ấy là trọng trách của Tiên Thánh…”. Phật giáo giải đáp những vấn đề “tử sinh”, đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh, nêu cao lòng từ thiện. Nho giáo góp phần xây dựng thiết chế chính trị của chế độ quân chủ, đào tạo và cung cấp đội ngũ trí thức Nho học cho bộ máy hành chính. Cùng với tầng lớp quý tộc tôn thất, các Nho sĩ càng ngày có vai trò trong chính quyền các cấp. Giữa các tôn giáo, tín ngưỡng không có sự bài xích, định kiến mà là sự chung sống và giao lưu, dung hòa. Đấy là nét đặc sắc của đời sống tôn giáo thời Trần, vừa tiếp nối, vừa phát triển truyền thống thời Lý.

Văn hóa thời Trần cũng chưa có sự phân hóa sâu sắc và cách biệt giữa văn hóa dân gian với văn hóa cung đình, quý tộc. Các nghệ thuật dân gian như múa rối nước, biểu diễn múa hát, các trò chơi như đấu vật, đánh cầu, đua thuyền…cũng được trình diễn trong sinh hoạt và nghi lễ cung đình. Trong triều có “đại nhạc” dùng trong đại lễ, còn “tiểu nhạc” dùng cả trong sinh hoạt văn hóa quý tộc và dân gian.

Một thành tựu góp phần tăng thêm sức mạnh trí tuệ của nước Đại Việt là triều Trần chăm lo phát triển giáo dục và thi cử, coi trọng học vấn, coi trọng việc tuyển dụng và sử dụng nhân tài. Triều Trần mở mang Quốc học viện, tổ chức thi Thái học sinh, đặt danh hiệu Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), đào tạo các trí thức Nho học. Số Nho sĩ ngày càng có vai trò quan trọng trong chính trường và trong sáng tác văn học, phát triển văn hóa. Phan Huy Chú đánh giá cao thành tựu của chế độ thi cử thời Trần: “Bấy giờ người tài giỏi sinh ra nhiều, người văn học chen vai nhiều, như thế đủ thấy thành hiệu của việc dùng khoa cử lấy nhân tài”. Tầng lớp quý tộc Trần có nguồn gốc từ cư dân đánh cá ven biển, chuộng võ nghệ, nhưng học vấn thấp, Trần Thủ Độ bị coi là người “không có học vấn”. Nhưng sau khi vương triều thành lập, các vua và quý tộc Trần nhanh chóng trở thành những người có học vấn cao, trong đó có những nhà văn hóa lớn, những tướng soái tài hoa, văn võ kiêm toàn. Nhìn vào vài gia đình hoàng tộc thấy rõ điều đó. Con của vua Trần Thái Tông có Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật. Con của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có Hưng Võ Vương Nghiễn, Hưng Nhượng Vương Tảng, Hưng Trí Vương Hiện..

Cọc Bạch Đằng trưng bày tại Bảo tàng Bạch Đằng (Quảng Yên).
Cọc Bạch Đằng trưng bày tại Bảo tàng Bạch Đằng (Quảng Yên).

Chủ trương trọng dụng người tài của triều Trần được Phan Huy Chú đánh giá cao: “nhiều danh thần về dòng tôn thất có người do công lao danh vọng vào làm tướng, về phái Nho học có người do văn chương học vấn lên chức Tể, chỉ có tài là được cất đặt, không câu nệ về tư cách. Cho nên bấy giờ các bậc đức tốt tài cao đều được dùng”. Nhìn vào triều đình thời đầu Trần, thấy nhiều gương mặt vua sáng tôi hiền tài ở tầm cao của trí tuệ dân tộc.

Đó là các Hoàng đế anh minh Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và dưới là những quý tộc tài cao như Trần Thủ Độ, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Tuấn…; những triều thần, dũng tướng như Lê Tần, Trần Bình Trọng, Đỗ Khắc Chung, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Trần Thì Kiến…Đó là những con người đảm đương công cuộc xây dựng đất nước thời bình và cũng là những tướng soái dũng lược trong thời chiến.

Thắng lợi của ba lần kháng chiến chống Mông Nguyên không thể tách rời với thành quả xây dựng đất nước, tạo nên tiềm lực quốc phòng và hậu phương của chiến tranh. Chính Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo cũng thấy rõ mối quan hệ này và nhận thức sâu sắc về nguyên nhân sâu xa của chiến thắng là do: ”Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nước nhà chung sức”. Cũng từ nhận thức đó, ông khuyên vua Trần Anh Tông muốn giữ nước trước hết phải “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Năm 1288 sau chiến thắng, trở về kinh thành bị tàn phá nặng nề, các cung điện bị đốt phá, Thượng hoàng Trần Thánh Tông phải ở tạm trong hành lang của Thị vệ. Nhiều triều Trần muốn gấp rút điều dân phu xây dựng lại các cung điện, đắp lại thành lũy, nhưng Trần Hưng Đạo lại khuyên vua nên để cho dân nghỉ và nói câu bất hủ “Chúng chí thành thành” (ý chí của dân chúng mới là bức thành). Trần Quốc Tuấn đánh thắng giặc nhờ sức mạnh của toàn dân và muốn xây dựng bức thành giữ nước trong lòng dân. Thắng lợi trên chiến trường không phải chỉ định đoạt bằng cuộc chiến đấu một mất một còn của các trận đánh mà còn được định đoạt bởi hậu phương, bởi công cuộc xây dựng đất nước trước và trong chiến tranh, bởi sức mạnh của nền văn minh Đại Việt với tất cả giá trị kết tinh của nó trong đó nổi bật lên chủ nghĩa yêu nước, ý thức dân tộc, tinh thần đoàn kết vì đại nghĩa. Không có cơ sở xây dựng đất nước, không có nền văn minh Đại Việt với những giá trị ưu việt như vậy làm sao có được chiến công đại phá Mông Nguyên, một đế chế cượng thịnh, hung hãn đang hoành hành trên thế giới Á-Âu đương thời.

GS Phan Huy Lê

(Còn nữa)


Tin liên quan