Hát đúm Hà Nam: Lối đối đáp dân gian tình tứ

Hát đúm ở Hà Nam (TX Quảng Yên) là một di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo tồn và phát huy trong kho tàng dân ca vùng biển Quảng Ninh. Giống như một số loại hình dân ca khác, hát đúm là lối đối đáp rất tình tứ...



Hội hát đúm là nơi tập trung các trai thanh gái lịch. Bây giờ, hát đúm chủ yếu được thấy ở sân đình, trong những lễ hội, chứ trước kia, không gian diễn xướng của hát đúm có thể là đường đi, ngoài cánh đồng, bến sông v.v.. Họ nắm tay nhau say sưa đối đáp thể hiện khát vọng về tình yêu đôi lứa. Ngày ấy, cái thời mà “yêu nhau đứng ở đằng xa”, trai gái chỉ có thể đợi các đám hội để được hát đúm, được cầm tay và tìm hiểu nhau. Cầm cổ tay cô gái đến bao giờ cô ấy hát đối đáp lại thật hay thì chàng trai mới chịu buông tay. Vì thế mới có những câu hát mở đầu kiểu như: “Thấy em vừa đẹp, vừa xinh/ Anh thuận nhân tình, anh nắm cổ tay/ Nắm rồi, anh hỏi cổ tay/ Ai nặn nên trắng, ai day nên tròn?”. Sau khi tan hội, chàng trai kia mới nhờ mẹ qua nhà cô gái kiếm cớ mua tre, mua gà v.v.. để xem mặt cô gái và tìm người mai mối… Thế nên đám hội hát đúm cũng là chỗ tụ tập để tìm bạn đời. Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển Tiếng Việt, giải thích: “Hát đúm là lối hát dân gian dịp hội hè đầu xuân ở miền Bắc Việt Nam, do nhiều thanh niên trai gái cùng tham gia, thường ở dạng đối đáp…”.

Hát đúm trong Lễ hội Tiên công. Ảnh: tư liệu
Hát đúm trong Lễ hội Tiên công. Ảnh: tư liệu

Về mặt nội dung, lời hát đúm Hà Nam phải trong sáng và có hàm lượng tri thức nhất định. Mỗi người đi hát phải “thủ” cả “một bụng” những câu hát như vậy để mong đối lại phía bên kia. Vì thế có khi cuộc hát kéo dài rất lâu. Đầu và giữa các canh hát, người ta mời nhau ăn trầu; cuối canh hát lại tặng nhau những vật phẩm làm tin. Thế nên rốt cuộc cũng chẳng ai sợ chuyện được thua trong canh hát. Bởi vì đôi khi thua đấy nhưng cũng chính là được: “Thua thì trao lại nón ô/ Được thì ta muốn cả ô lẫn người”. Nhiều đôi nam thanh nữ tú đã thành vợ thành chồng nhờ những canh hát được - thua ấy.

Thực chất hát đúm Hà Nam bắt nguồn từ những câu nói hàng ngày được biến tấu sao cho có vần, có điệu. Lời hát thường được đặt theo thể lục bát, lục bát biến thể, hay song thất lục bát. Mỗi một lời hát thường bắt đầu và kết thúc bằng một câu đưa đẩy. Câu ấy cũng chính là tín hiệu cho bên kia biết để chuẩn bị mà đối đáp lại. Ví dụ: “Rằng duyên kết bạn mình ơi! /… Nhà em chèo mũi cũng ngoan/ Hai tay em dẻo như đàn năm cung/ Chồng chưa? Thú thật anh cùng/ Để anh khấn nguyện tơ hồng kíp se… Rằng duyên kết bạn mình ơi!”. Cũng chính cái câu đưa đẩy “Rằng duyên kết bạn mình ơi” hay như: “Duyên kết bạn mình ơi” cùng với nhóm từ xưng hô “mình - bạn”, “anh - em” đã thể hiện tính chất hô ứng qua lại trong lời hát. Người ta phân chia các kiểu hát đúm dựa vào thời điểm hát và nội dung câu hát. Với mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ có một dạng hát đúm khác nhau, như: hát chào, hát hỏi, hát gặp, hát hoạ, hát đố, hát lính, hát thư, hát ra về v.v.. Khi mới gặp làm quen người ta thường hát chào để dần kết thân, ví dụ: “Duyên kết bạn mình ơi! ... Thoạt vào anh chào hội xuân/ Anh chào quý khách xa gần ngồi chơi”. Hát hỏi đôi khi chẳng phải để lấy thông tin, mà chỉ là một cách để thử tài đối phương, có khi để tìm ra người tài sắc, ý hợp tâm đầu: “Duyên kết bạn mình ơi!... / Rằng anh đã vợ con chưa/ Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào/ Mẹ già anh ở nơi nào/ Để em tìm vào hầu hạ thay anh…”. Hát đúm tình tứ nhất phải là lúc giã bạn. Người ta hát những lời từ cõi lòng sâu kín nhất của mình. Trong lời hát có những nhớ thương, bịn rịn, có chờ mong, ước hẹn v.v.. Giống như dân ca Quan họ, lời giã bạn trong hát đúm cũng là lời lưu luyến nhất trong mỗi cuộc hát: “Ra về kẻ biệt lời thề/ Kẻ thương người nhớ, kẻ tơ tưởng tình/ Ra về bỏ bạn một mình/ Lấy ai làm kẻ chung tình có đôi/... Duyên kết bạn mình ơi!”.

Về giọng điệu, hát đúm Hà Nam sử dụng giọng thổ, ngọt ngào, trầm ấm. Theo nghệ sĩ Vùng mỏ Thanh Quyết, người đã nhiều năm cất công sưu tầm loại hình diễn xướng dân gian này, thì hát đúm Quảng Yên khác với hát đúm hay hò biển Vân Đồn, Trà Cổ ở chỗ hát đúm các vùng ấy ưa sử dụng giọng kim với âm sắc cao vang, người Hà Nam, Quảng Yên lại ưa hát giọng thổ trầm ấm và chan chứa nghĩa tình. Hát đúm ở Hà Nam, Quảng Yên thường sử dụng lời cổ, trong khi đó hát đúm Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) lại sử dụng cả lời mới. Một căn cứ nữa để bà Quyết có thể khẳng định hát đúm Hà Nam ít bị lai tạp là bởi trong những câu hát ấy có rất nhiều tên đất, tên làng của vùng quê Hà Nam được đưa vào một cách nhuần nhị. Đây cũng là chỗ thể hiện tính nguyên bản của hát đúm Hà Nam so với hát đúm ở những vùng khác.

Có thể nói rằng, hát đúm là tiếng lòng của những người bình dân, kèm  miếng trầu xanh, bên sân đình, luỹ tre, bến nước. Hay nói như NSVM Thanh Quyết, hát đúm như hoa đồng cỏ nội; dịu dàng, giản dị nhưng thắm thiết như bản tình ca người dân quê nơi thôn dã. Những bài hát ấy mang đậm chất trữ tình, phản ánh tình cảm thương yêu của lứa đôi. Nhiều bài hát có lời lẽ mộc mạc, thậm chí thất vận, thất luật nhưng nội dung vẫn đậm đà, lãng mạn.

Huỳnh Đăng